Thân thế-Sự nghiệp >> Thân thế-Sự nghiệp

Thân thế anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực  (18/04/2013)

Nguyễn Trung Trực tên thật là Nguyễn Văn Lịch, Quản Chơn, sinh năm 1938 tại Bình Nhật, huyện Cửu An, phủ Tân An ( nay thuộc xã Bình Đức, huyện Bến Lức, tỉnh Long An). Tuổi trưởng thành của ông đúng lúc lịch sử nước nhà bước vào giai đoạn ngặt nghèo bi thảm nhất. Vận mệnh của dân tộc ngàn cân treo sợ tóc, kẽ thù là bọn thực dân cướp nước phương Tâycó thế lực hùng mạnh và trang bị hiện đại.

Ngay từ khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, Nguyễn Trung Trực đã tham gia vào việc phòng thủ và bảo vệ đồn Chí Hòa dưới quyền của lãnh binh Trương Định. Tháng 12 năm 1861, trước phong trào nổi dậy của nhân dân 3 tỉnh miền Đông, giặc Pháp rất hoảng sợ và khủng bố dã man các phong trào yêu nước. Thời gian này Nguyễn Trung Trực chiến đấu trong hàng ngũ nghĩa quân phía Tân An nhằm bảo vệ vùng Gò Công, địa bàn chính của nghĩa binh là vùng Bến Lức dọc theo sông Vàm Cỏ Đông.

Ngày 10 tháng 12 năm 1981 Nguyễn Trung Trực cùng nghĩa quân lập nên chiến công vang dội: Đốt cháy tàu Espérance trên Vàm Nhật Tảo làm cho địch thiệt mạng 17 tên. Sau chiến thắng này hàng loạt cuộc tấn công khác đánh vào tàu địch liên tiếp nổ ra ở Bến Lức, sông Trà … làm cho lực lượng hải quân Pháp lúng túng, bị động thấy rõ. Một viên tướng Pháp từng đánh giá chiến thắng Nhật Tảo là “Khúc nhạc mở đầu cho cuộc tổng công kích hầu như toàn bộ các đồn lũy của người Pháp”.

Sau chiến công Nhật Tảo, Nguyễn Trung Trực ra Huế nhận chức Quản Cơ do triều đình phong tặng. Theo chế độ phẩm trật quan lại thời Tự Đức thì chức Quãn Cơ là bậc võ quan được sếp vào hàng chánh tứ phẩm. Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp chiếm Vĩnh Long, tiếp đó là các tỉnh Châu Đốc, An Giang, Hà Tiên. Lúc này Nguyễn Trung Trực lui về hòn Chông. Khi thành Hà Tiên rơi vào tay giặc, chẳng những ông không nghe lệnh của triều đình trở về Bình Thuận, trái lại ông cùng một số nghĩa quân kiên trung xây dựng căn cứ địa chuẩn bị lực lượng, chở thời cơ tấn công địch.

Ngày 16 tháng 6 năm 1868, vào lúc 4 giờ sáng, ông chỉ huy nghĩa quân kết hợp với nội ứng tấn công đồn Rạch Giá. Tất cả giặc Pháp và lính tay sai đều bị nghĩa quân giết sạch. Đồn Rạch Giá bị nghĩa quân đốt cháy rực trời. Sau chiến công vang dội của Nguyễn Trung Trực, giặc Pháp thất điên phát đảo và đã điên cuồn truy sát ông cùng nghĩa quân. Chúng tàn sát gần 700 người dân Rạch Giá để trả tù trận tấn công đồn đó. Tên Vệt gian Trần Bá Lộc được cử từ Cái Bè đến Rạch Giá để đối phó với Nguyễn Trung Trực. Hắn đặt giải thưởng 500 đồng cho ai bắt được và dâng thủ cấp của Ông. Độc ác hơn nữa, hắn cho bắt sống mẹ của ông khi ông bỏ hòn Chông ra Phú Quốc với 40 ghe trở nghĩa quân. Ngày 19/9/1868 tên quan tư của Pháp cùng tên đội trưởng và 125 lính mã tà tấn công Hàm Ninh, nghĩa quân đã nghi binh để tiêu hao sinh lực địch rồi cuối cùng đánh sáp lá cà đẩy chúng bỏ chạy ra khỏi Hàm Ninh. Bọn giặc gọi thêm viện binh và quay sang tấn công Dương Đông, Phú Đông, An Thái, Phước Lộc. Trong khi đó, bà vợ của ông bị bệnh hậu sản qua đời. Chôn cất vợ xong, ông ẵm con đi xin sữa. Lúc đầu nhân dân còn cho con ông bú, sau giặc Pháp khủng bố họ bỏ chạy hết vào rừng. Đứa bé mới hơn 1  tháng tuổi khát sữa chết. Trong giây phút cuối cùng nơi rừng sâu, trong tay ôm xác đứa con, mẹ thì bị bắt, nhân dân thì bị khảo tra tàn sát dã man, nghĩa quân đang bị núng thế, thuốc súng không còn, thế giặc lại mạnh, ông đã quyết định chọn lấy sự hy sinh và chiến đấu đến giây phút cuối cùng. Trước khi tấn công một trận quyết tử, ông đã hạ lệnh tập chung hết nghĩa quân lại để giải thích cặn kẽ cho mọi người hiểu hết tình thế. Sau đó, Nguyễn Trung Trực đã kêu gọi đánh trận cuối cùng. Trong trận này, chỉ có một số nghĩa quân được tuyển chọn. Trước khi ra trận ông đã quyết định phá huỷe toàn bộ ghe thuyền và cất giấu tất cả vũ khí. Ông gọi riêng Ngô Văn Soạn là cận vệ thân nhất giao ấn kiến để ông Soạn ở lại bảo vệ căn cứ.

Cuộc chiến diễn ra rất ác liệt tại vùng căn cứ, kéo dài qua cánh đồng tràm đến bãi ông Lang. rên đường rút lui ông chạy vế hướng Dương Đông để xa dần vùng căn cứ. Qua trận chiến đấu ác liệt ông bị thương và ngất đi, không may bị sa vào tay giặc. Chúng cấp tốc đưa ông về Dương Đông, sau đó rút lui. Giặc pháp hí hửng vì bắt được ông, chúng giở trò đối xử tử tế, đưa ông từ Rạch Giá lên Sài Gòn bằng tàu Hài Âu, suốt một trận đường dài hơn một ngày đêm, tên Việt gian Huỳnh Công Tấn hết sức khuyên ông theo Pháp để hưởng chức tước lợi lộc. Ông gác ngoài tay và khẳng khái nói : “Tôi chỉ muốn làm một chức thôi, chức gì mà có thể chặt đầu tất cả bọn Tây.

Đến Sài Gòn, Nguyễn Trung Trực được giam tại khám lớn. Vial là tên người Pháp trực tiếp hỏi cung ông cũng phải công nhận: “Trực có gương mặt thông minh, dễ gây thiện cảm, đó là con người tự trọng có tư cách đáng quý và cương nghị”

Sau cuộc hỏi cung thấy không dụ hàng được ông, Pháp soái bực tưc nói: “Ông Lịch nè, dầu ông sống hay chết, binh lực Pháp cũng sẽ tận diệt được quân phiến loạn xứ này”. Nguyễn Trung Trực ung dung mỉm cười đưa tay chỉ ra sân cỏ xanh ôn tồn đáp : “Thưa Pháp Soái chúng tôi chắc rằng chừng nào ngài trừ hết cỏ trên mặt đất thì chừng đó mới mong trừ diệt được những người ái quốc mà ngài giận dữ coi là quân phiến loạn”.

Câu nói này sau được coi như là một chân lý: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nammới hết người Namđánh Tây”

Đô đốc Nam Kỳ bấy giờ là Ohie thấy chẳng tài nào thuyết phục được Nguyễn Trung Trực theo Pháp nên đã tuyên án xử tử ông cùng một số nghĩa quân khác, bản án được thi hành tại Rạch Giá.

Ngày 27 tháng 10 năm 1868, thực dân Pháp đưa Nguyễn Trung Trực ra pháp trường (nay là Bưu điện Rạch Giá), bấy giờ Nguyễn Trung Trực còn rất trẻ, mới 30 tuổi, nhưng nhân dân đã tôn là “Ông”, bởi con người của ông đã vượt ra ngoài vòng tuổi tác và tục lệ thông thương. Đồng bào Tà Niên đã dệt gấp chiếu bông trải kín con đường Nguyễn Trung Trực ra pháp trường. Chuyện thật lạ ! Đời xưa người ta chỉ trải chiếu cho vui đi, đây lại trải chiếu dưới chân ông Nguyễn. Tình cảm của nhân dân bỏ qua mọi tục lệ . Biết bao tấm lòng của người dân Rạch Giá hết sức đau đớn, yêu thương và kính trong tiễn đưa “Người” bằng tấm lòng cảm phục.

Bất chấp bọn giặc cấm ngặt, nhân dân vẫn đổ ra pháp trường, ai nấy mắt đỏ hoe. Tại pháp trường, đồng bào đã đặt sẵn bàn thờ có ly hương, khói nhang nghi ngút, trên đó có một mâm rượu, một đĩa trái cây rất đẹp và chiếc áo vạt hò cỗ truyền vừa mới may. Trước bàn thờ, mọi người quỳ xuống lạy ba lạy tạ ơn và tế sống ông. Nghi lễ đối với người ra đi là vậy. Đồng bào muốn ông Nguyễn ăn  với mình một bữa cơm trước lúc ra đi mãi mãi, muốn ông đặt một chiếc áo ấm tình quê hương, để chiếc áo thay mọi người đắp cho ông. Tang lễ đau xót đến đứt lòng người mà không hề bi lụy. Tấm chiếu bông mà Nguyễn Trung Trực đứng được bà con dệt rất công phu màu sắc rực rỡ. chính giữa nỗi bật chữ “THỌ” lớn. Còn gì sâu sắc hơn khi tặng người ra đi chữ “thọ” trước lúc ra đi mãi mãi. Đây là lời nhân dân khẳng định với ông rằng: “Dù mất đi nhưng danh thơm của ông vẫn nghìn năm trường thọ”. Đó cũng là quan điển dân sinh rất độc đáo của nhân dân ta. Vì không có gan cầm gươm chém ông, nên Pháp phải mướn một tên lưu manh tên Bòn Tưa ( người Khmer ). Khi đến gần ông, hắn sợ quỳ sụp xuống tạ lỗi trước khi chém. Cảm phục sâu sắc trước sự hiên ngang của ông, nhân dân đã lưu truyền những phút cuối đời của ông như sau: “ Ông Nguyễn bị kẽ thù chém nhưng không để cho đầu rơi xuống đất. Hai tay ông nâng lấy đầu mình, tròng mắt ông vẫn trợn trừng đảo qua, đảo lại liên tục. Khi mắt ông hiếu vào Bòn Tưa hắn kêu thất thanh, hộc máu chết ngay tại chỗ. Đảo qua bên tay mặt một loạt tên giặc ngã, đảo qua bên tay trái một loạt khác lăn qua”. Mặc dù hoang đường nhưng thật nhiều ý nghĩa bởi cái chết của ông bất khuất kiên cường làm cho lũ giặc khiếp sợ. Sau khi ông mất, trời Rạch Giá mưa tuôn tầm tả suốt ba ngày đêm. Cơn mưa như khóc thương người anh hùng đã ra đi mãi mãi. Kinh hoàng trước sự hiên ngang của ông, giặc lén chôn thi hài của ông gần tòa bố cách cách đồn chừng 50m về hướng Tây. Một số lính mã tà đã trồng lên mộ của ông một cây đa và thường lén giặc Pháp đến lạy để van xin ông tha tội.